Bảo tồn và phát huy văn hóa ẩm thực thời chiến giai đoạn 1954-1975 ở chiến trường miền Nam gắn với phát triển du lịch

Các tác giả

  • Phạm Thị Bình Công ty Biển Báu Angkor; Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể vào và Du lịch Việt Nam

Tóm tắt

Bài viết tập trung nghiên cứu vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa ẩm thực thời chiến giai đoạn 1954–1975 ở chiến trường miền Nam trong mối liên hệ với phát triển du lịch văn hóa hiện nay. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, tác giả xem văn hóa ẩm thực thời chiến không đơn thuần là hệ thống món ăn, mà là một chỉnh thể thực hành sinh tồn gắn với điều kiện chiến tranh, bao gồm canh tác cầm cự, khai thác tự nhiên tại chỗ, chế biến tối giản – cơ động, kỷ luật chia khẩu phần, kỹ thuật bảo quản và xử lý nước trong hoàn cảnh thiếu thốn và nguy hiểm thường trực. Thông qua việc phân tích hệ thống hồi ký, nhật ký, bút ký kháng chiến và các tư liệu lịch sử liên quan, bài viết làm rõ những giá trị đặc trưng của văn hóa ẩm thực thời chiến trên ba phương diện: cách canh tác, sản xuất và chế biến; cách ăn, uống và cách bảo quản lương thực, thực phẩm. Qua đó, văn hóa ẩm thực thời chiến được nhận diện như một lớp di sản văn hóa đặc thù, phản ánh năng lực thích nghi, tổ chức hậu cần, tinh thần kỷ luật tập thể và đạo lý sẻ chia của con người miền Nam trong chiến tranh. Từ kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất hệ giải pháp bảo tồn và phát huy theo hướng tiếp cận nhân văn và diễn giải lịch sử, nhấn mạnh việc chuẩn hóa tư liệu, hệ thống hóa tri thức ẩm thực thời chiến và chuyển các giá trị này thành nội dung giáo dục, trưng bày, trải nghiệm trong du lịch thay vì tái hiện gian khổ một cách cảm tính. Cách tiếp cận này góp phần bảo đảm tính xác thực của di sản, đồng thời tạo ra sản phẩm du lịch văn hóa có chiều sâu, qua đó thúc đẩy sự lan tỏa bền vững của giá trị văn hóa ẩm thực thời chiến trong đời sống đương đại.

Tài liệu tham khảo

1. Câu lạc bộ truyền thống kháng chiến Ban tuyên huấn Trung ương cục miền Nam (2024), Kỷ yếu truyền thống Ban tuyên huấn trung ương cục miền nam (giai đoạn 1961 – 1975), Nxb. Tổng hợp TP. HCM.

2. Trần Thị Kim Cúc (2020), Khổ luyện hồi ký, Nxb. Đại học Sư phạm TP. HCM.

3. Mã Thiện Đồng (2010), Ký ức tàu không số, Nxb. Tổng hợp TP. HCM.

4. Mã Thiện Đồng (2012), Bài ca hy vọng (chuyện kể về nữ biệt động Sài Gòn Nguyễn Thị Mai), Nxb. Tổng hợp TP. HCM.

5. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Văn hóa và phát triển, Giáo trình cao cấp lý luận chính trị, Nxb. Lý luận Chính trị.

6. Đức Huy (biên tập) (2011), Nhật ký Lê Anh Xuân, Nxb. Văn hóa – Văn nghệ.

7. Trầm Hương (2018), Đường 1C huyền thoại, Nxb. Công an Nhân dân.

8. Nguyễn Kim Loan (chủ biên) (2014), Bảo tồn và phát huy Di sản văn hóa Việt Nam, Nxb. Văn hóa thông tin.

9. Phạm Vũ Luận (2012), Tập hồi ký Trường Sư phạm Tây Nam Bộ, Nxb. Trẻ.

10. Nguyễn Hồng Mai (1999), Chiếm tàu địch, vượt Côn Đảo, Nxb. Quân đội Nhân dân.

11. Đồng Sỹ Nguyên (2023), Đường Trường Sơn – Hồ Chí Minh: Một sáng tạo độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân.

12. Hoàng Tuấn Nhã (2011), Những ngày máu lửa (Phóng sự - bút ký từ năm 1966 đến 1979), Nxb. Chính trị Quốc Gia.

13. Hoàng Phê (Chủ biên) (2003), Từ điển tiếng Việt, in lần thứ 9 có sửa chữa, bổ sung, Nxb. Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, Hà Nội – Đà Nẵng.

14. Nguyễn Văn Tàu, Mã Thiện Đồng (2016), Bước ra từ thầm lặng, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.

15. Bùi Văn Toản (2011), Lao 1 – Côn Đảo truyền thống kiên trung bất khuất, Nxb. Thanh niên.

Tải xuống

Đã Xuất bản

06-04-2026

Cách trích dẫn

Phạm Thị Bình. (2026). Bảo tồn và phát huy văn hóa ẩm thực thời chiến giai đoạn 1954-1975 ở chiến trường miền Nam gắn với phát triển du lịch. Tạp Chí Khoa học Trường ĐHSP Hà Nội 2: Chuyên San Khoa học Giáo dục, 1(05), 28. Truy vấn từ https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/766