Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP Hà Nội 2: Chuyên san Khoa học Giáo dục
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal
<p>Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP Hà Nội 2: Chuyên san Khoa học Giáo dục</p> <p>Đơn vị quản lý: Phòng Khoa học Công nghệ và Hợp tác Quốc tế, Trường ĐHSP Hà Nội 2, số 32 đường Nguyễn Văn Linh, phường Xuân Hòa, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.</p> <p>Email: <a href="mailto:tapchikhoahoc@hpu2.edu.vn">sjes@hpu2.edu.vn</a></p>Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP Hà Nội 2: Chuyên san Khoa học Giáo dụcvi-VNTạp chí Khoa học Trường ĐHSP Hà Nội 2: Chuyên san Khoa học Giáo dục2815-5629Thực trạng kỹ năng hợp tác của trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non tại Mỹ Tho
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/823
<p>Kỹ năng hợp tác là một thành tố quan trọng trong phát triển năng lực xã hội của trẻ 5–6 tuổi, có ý nghĩa trực tiếp đối với sự thích ứng học đường và khả năng tham gia các hoạt động nhóm khi trẻ chuẩn bị vào lớp 1. Tuy nhiên, trong bối cảnh giáo dục mầm non hiện nay, mức độ kỹ năng hợp tác của trẻ có thể khác biệt giữa các cơ sở giáo dục do điều kiện tổ chức hoạt động, môi trường giao tiếp và cách thức giáo viên định hướng tương tác nhóm. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát thực trạng kỹ năng hợp tác của trẻ 5–6 tuổi tại các trường mầm non trên địa bàn thành phố Mỹ Tho. Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát mô tả kết hợp quan sát theo tiêu chí, trong đó kỹ năng hợp tác được xem xét qua các biểu hiện cốt lõi như chia sẻ, chờ lượt, phối hợp thực hiện nhiệm vụ chung, lắng nghe và giải quyết bất đồng đơn giản. Dữ liệu được xử lý bằng thống kê mô tả để xác định mức độ chung, mức độ theo từng biểu hiện và sự khác biệt giữa các nhóm bối cảnh lớp học. Kết quả nghiên cứu cung cấp căn cứ khoa học cho việc đề xuất biện pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm nhằm nâng cao kỹ năng hợp tác cho trẻ 5–6 tuổi tại các trường mầm non ở Mỹ Tho</p>Nguyễn Thị Xuân Anh
Bản quyền (c) 2026
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-09-082026-09-0820533Khung năng lực AI của sinh viên ngành sư phạm vật lí đáp ứng yêu cầu học khối kiến thức nghiệp vụ sư phạm
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/825
<p>Sử dụng các công cụ AI trong học tập và nghiên cứu đóng vai trò quan trọng đối với sinh viên sư phạm nói chung và sinh viên sư phạm vật lí nói riêng. Mục tiêu nghiên cứu là xác định cấu trúc năng lực AI cần có của sinh viên sư phạm vật lí trong học tập và nghiên cứu kiến thức nghiệp vụ sư phạm. Quy trình nghiên cứu được sử dụng từ phân tích các bài báo khoa học liên quan để lựa chọn khung năng lực AI và mô tả chỉ số hành vi của sinh viên liên quan tới học tập và nghiên cứu kiến thức nghiệp vụ sư phạm. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra và mô tả chi tiết khung năng lực AI bao gồm 8 thành tố và 18 chỉ số hành vi, trong đó đã làm rõ một số chỉ số liên quan tới sử dụng AI trong học tập và nghiên cứu kiến thức nghiệp vụ sư phạm. Sản phẩm của nghiên cứu là định hướng để phát triển chương trình đào tạo ứng dụng AI cho sinh viên sư phạm, cập nhật kịp thời sự phát triển của khoa học công nghệ vào chương trình.</p>Nguyễn Anh DũngNguyễn Thị Phương LanNgô Trọng TuệPhan Thị Duyên
Bản quyền (c) 2026
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-09-082026-09-0820599Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên ngành công nghệ thông tin: lợi ích, thách thức và định hướng phát triển
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/826
<p>Trong nghiên cứu chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence – AI), các công cụ AI đang ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong giáo dục đại học, đặc biệt đối với sinh viên ngành Công nghệ thông tin. AI không chỉ hỗ trợ học tập mà còn góp phần nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học, phát triển tư duy sáng tạo và năng lực số cho người học. Bài báo tập trung đánh giá hiệu quả sử dụng AI trong hoạt động học tập và nghiên cứu của sinh viên ngành Công nghệ thông tin thông qua việc phân tích vai trò của các công cụ AI phổ biến như ChatGPT, Gemini, GitHub Copilot, Perplexity AI và Elicit. Nghiên cứu đồng thời chỉ ra những lợi ích nổi bật của AI như tiết kiệm thời gian, hỗ trợ xử lí thông tin, tăng hiệu quả học tập và khả năng tiếp cận tri thức. Bên cạnh đó, bài viết cũng phân tích các hạn chế liên quan đến độ chính xác thông tin, nguy cơ phụ thuộc công nghệ và vấn đề đạo đức học thuật trong môi trường giáo dục đại học. Trên cơ sở đó, bài báo đề xuất một số giải pháp nhằm sử dụng AI hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm đối với sinh viên ngành Công nghệ thông tin trong thời đại số.</p>Thành Minh Đức
Bản quyền (c) 2026
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-09-082026-09-082051616Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giáo dục mầm non: cơ hội, thách thức và định hướng tiếp cận sư phạm
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/827
<p>Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence – AI) đã và đang tác động sâu rộng đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục. Giáo dục mầm non – bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân – tuy có những đặc thù riêng về đối tượng, mục tiêu và phương pháp giáo dục, song cũng không nằm ngoài xu thế này. Bài tham luận tập trung phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ứng dụng AI trong giáo dục mầm non, làm rõ những cơ hội, thách thức mà AI mang lại trong việc hỗ trợ giáo viên, cá nhân hóa hoạt động giáo dục, nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ, đồng thời chỉ ra những thách thức, rủi ro và yêu cầu đặt ra về đạo đức, năng lực sư phạm cũng như chính sách quản lý. Bài viết cũng nhận diện các thách thức về hạ tầng, năng lực số và đạo đức dữ liệu trong bối cảnh đặc thù của Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng tiếp cận sư phạm nhằm ứng dụng AI một cách phù hợp, nhân văn và hiệu quả trong giáo dục mầm non ở Việt Nam.</p>Cao Thị Lan Hương
Bản quyền (c) 2026
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-09-082026-09-082052626Khai thác công nghệ AI nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục âm nhạc cho trẻ mầm non
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/828
<p>Trong kỷ nguyên Cách mạng 4.0, trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành công cụ then chốt thúc đẩy đổi mới giáo dục, đặc biệt là cấp học mầm non. Với mục tiêu lấy trẻ làm trung tâm, việc ứng dụng AI vào giáo dục âm nhạc giúp hình thành cảm xúc thẩm mỹ, phát triển trí tuệ và nhân cách toàn diện cho trẻ. Công nghệ này không chỉ đổi mới phương pháp dạy học mà còn tạo ra môi trường tương tác sinh động, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi. Bài viết tập trung phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc khai thác AI trong các hoạt động âm nhạc mầm non. Qua đó, tác giả làm rõ các hình thức triển khai cụ thể, đồng thời đánh giá khách quan những thuận lợi và thách thức trong thực tế. Cuối cùng, một số giải pháp thiết thực được đề xuất nhằm tối ưu hóa hiệu quả giáo dục âm nhạc trong bối cảnh chuyển đổi số. Đây là bước đi cần thiết để nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại.</p>Ngô Thanh Hương
Bản quyền (c) 2026
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-09-082026-09-082053535Âm nhạc và cảm thụ âm nhạc - sự kết nối cảm xúc
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/829
<p>Bài viết tập trung phân tích mối quan hệ giữa âm nhạc và cảm thụ âm nhạc trong việc hình thành, nuôi dưỡng và kết nối cảm xúc con người. Trên cơ sở tiếp cận từ góc độ giáo dục nghệ thuật và tâm lí học, nghiên cứu làm rõ vai trò của âm nhạc như một phương tiện biểu đạt và lan tỏa cảm xúc; đồng thời chỉ ra ý nghĩa của việc phát triển năng lực cảm thụ âm nhạc đối với sự hoàn thiện nhân cách, đặc biệt trong môi trường giáo dục. Qua đó, bài viết khẳng định: âm nhạc không chỉ là nghệ thuật của âm thanh mà còn là cầu nối tinh tế giữa con người với con người, giữa cá nhân với cộng đồng.</p>Lê Thanh Huyền
Bản quyền (c) 2026
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-09-082026-09-082054040Phát triển con người mới Việt Nam hiện nay - Những vấn đề đặt ra từ góc nhìn tư tưởng Hồ Chí Minh
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/830
<p>Phát triển con người là mục tiêu trung tâm của chiến lược phát triển đất nước trong suốt tiến trình đổi mới, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh bài viết phân tích tích thực trạng phát triển con người Việt Nam hiện nay trên ba phương diện cơ bản: trí tuệ – năng lực sáng tạo; đạo đức – nhân cách – lối sống; thể lực – thẩm mỹ. Kết quả cho thấy, bên cạnh những thành tựu quan trọng, phát triển con người ở Việt Nam đang đối diện với nhiều thách thức, nổi bật là sự suy giảm về đạo đức xã hội, khủng hoảng hệ giá trị và hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực. Từ đó, bài viết chỉ ra một số vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn đặt ra trong phát triển con người Việt Nam hiện nay từ góc nhìn tư tưởng Hồ Chí Minh.</p>Nguyễn Thị Kim Oanh
Bản quyền (c) 2026
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-09-082026-09-082054646Việc sử dụng tiếng Anh trên Facebook của sinh viên chương trình chất lượng cao ngành Ngôn ngữ Anh tại Việt Nam: Thói quen và tác động đến năng lực ngôn ngữ
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/831
<p>Nghiên cứu này nhằm khảo sát thói quen sử dụng tiếng Anh trên nền tảng Facebook của sinh viên chương trình chất lượng cao ngành Ngôn ngữ Anh tại một trường đại học ở Việt Nam, đồng thời phân tích những tác động được nhận thức của hoạt động này đối với năng lực ngôn ngữ và kết quả học tập của người học.Nghiên cứu được triển khai theo phương pháp hỗn hợp, trong đó dữ liệu định lượng được thu thập từ 55 sinh viên thông qua bảng hỏi có cấu trúc, kết hợp với dữ liệu định tính thu được từ các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc với 10 người tham gia. Kết quả nghiên cứu cho thấy Facebook có thể được xem như một môi trường học tập số không chính thức, góp phần đáng kể vào việc phát triển vốn từ vựng, khả năng đọc hiểu, cũng như nâng cao mức độ tự tin trong việc sử dụng tiếng Anh của người học. Tuy nhiên, nền tảng này bộc lộ những hạn chế nhất định trong việc cải thiện kỹ năng nói và năng lực viết học thuật mang tính chuẩn mực. Bên cạnh đó, xu hướng lạm dụng ngôn ngữ không trang trọng và việc tiếp xúc thường xuyên với các dạng ngôn ngữ không chuẩn cũng đặt ra những thách thức đáng lưu ý đối với quá trình học tập ngôn ngữ. Từ những kết quả đạt được, nghiên cứu đi đến kết luận rằng, mặc dù Facebook có thể đóng vai trò như một công cụ hỗ trợ hữu ích trong việc học tiếng Anh, hiệu quả của nó phụ thuộc đáng kể vào mức độ nhận thức của người học cũng như sự tích hợp có định hướng trong hoạt động giảng dạy. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý đối với người học, giảng viên và các nhà thiết kế chương trình đào tạo</p>Phí Thị MùiNguyễn Thị Quỳnh Chi
Bản quyền (c) 2026
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-09-082026-09-082055656Một số chiến lược phân hóa dạy học ở tiểu học
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/832
<p>Hầu hết chúng ta đều nhận thức rõ sự đa dạng của học sinh và biết rằng việc phân hóa dạy học dựa trên sự khác biệt cá nhân là cần thiết. Tuy nhiên có những thách thức với giáo viên để triển khai phân hóa dạy học ở mọi lớp học, đặc biệt trong bối cảnh nhà trường phải đảm bảo các chuẩn cốt lõi chung của chương trình giáo dục. Nghiên cứu cho thấy các chiến lược phân hóa có thể được sử dụng để điều chỉnh bất kỳ chương trình học nào nhằm đáp ứng nhu cầu của học sinh, bất kể giáo viên có quyền quyết định nhiều hay ít về nội dung dạy học. Trong đó có đề xuất một số chiến lược dễ tiếp cận và dễ áp dụng mà giáo viên nên biết khi bắt đầu thực hiện phân hóa tại lớp. Đây là điểm khởi đầu hữu ích để giáo viên làm quen và từ đó xây dựng kho chiến lược phù hợp theo cách riêng của mình</p>Lê Thị Nguyên
Bản quyền (c) 2026
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-09-082026-09-082056363Đào tạo đại học thiết kế công nghiệp thông qua cộng đồng: đề xuất khung kết nối đào tạo với hệ sinh thái thực hành tại Việt Nam
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/833
<p>Trong bối cảnh cấu trúc nghề nghiệp ngày càng linh hoạt và phân tán, đào tạo đại học ngành Thiết kế công nghiệp (TKCN – mã ngành 7210402) cần vượt khỏi mô hình đào tạo hướng tuyển dụng truyền thống. Mặc dù học tập dựa trên cộng đồng và các tiếp cận tương tự đã được áp dụng trong giáo dục đại học, việc tích hợp có hệ thống các cộng đồng thực hành vào chương trình đào tạo vẫn chưa được cấu trúc rõ ràng nhằm hỗ trợ phát triển sinh kế nghề nghiệp cho sinh viên.</p> <p>Tại Việt Nam, đào tạo TKCN hiện vẫn chủ yếu gắn với mô hình studio kết hợp thực tập doanh nghiệp, trong khi thực tiễn hành nghề cho thấy sự xuất hiện của các cấu trúc sinh kế linh hoạt như studio độc lập, cộng đồng tạo tác (maker), hợp tác làng nghề và mạng lưới phân phối sáng tạo. Trên cơ sở tổng hợp tài liệu và phân tích bối cảnh, bài viết đề xuất khung Học tập Thiết kế công nghiệp gắn với cộng đồng (Community-Embedded Industrial Design Learning – CEID) như một cấu trúc kết nối đào tạo chính quy với hệ sinh thái thực hành đa dạng, qua đó mở rộng khả năng định hướng nghề nghiệp thông qua cơ chế tham gia và di chuyển giữa các môi trường thực hành.</p>Dương Liên Trang Nhã
Bản quyền (c) 2026
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-09-082026-09-082057474Biện pháp sử dụng tác phẩm tự sự dân gian trong giáo dục tình yêu quê hương, đất nước cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/834
<p>Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất biện pháp sử dụng tác phẩm tự sự dân gian (TPTSDG) trong giáo dục tình yêu quê hương, đất nước cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp: điều tra bằng phiếu hỏi; quan sát; pháp trưng cầu ý kiến. Kết quả cho thấy giáo viên (GV) có nhận thức tích cực về vai trò của TPTSDG trong giáo dục tình yêu quê hương, đất nước cho trẻ, tuy nhiên việc vận dụng trong thực tiễn còn hạn chế: tác phẩm chưa gắn với đặc điểm văn hoá của địa phương, chưa có quy trình rõ ràng, phương pháp hình thức tổ chức chưa đa dạng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn biện pháp nhằm giáo dục tình yêu quê hương, đất nước cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non. Những biện pháp này góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, phát huy giá trị truyền thống văn hóa dân tộc và đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục mầm non</p>Trần Thị NhungNguyễn Hoàng Yến
Bản quyền (c) 2026
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-09-082026-09-082058383Phát triển công cụ khảo sát và quy trình thu thập thông tin phản hồi từ các bên liên quan trong giáo dục đại học
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/835
<p>Thông tin phản hồi từ các bên liên quan (BLQ) đóng vai trò quan trọng trong hoạt động đảm bảo và cải tiến chất lượng giáo dục đại học. Tuy nhiên, tại nhiều cơ sở giáo dục(CSGD), việc xây dựng công cụ khảo sát và tổ chức thu thập phản hồi vẫn còn rời rạc, thiếu tính chuẩn hóa, độ tin cậy và hiệu quả sử dụng chưa cao. Nghiên cứu này nhằm phát triển bộ công cụ khảo sát và quy trình thu thập thông tin phản hồi một cách hệ thống trong giáo dục đại học. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, bao gồm phân tích tài liệu, tham vấn chuyên gia và khảo sát thử nghiệm. Bốn nhóm đối tượng được xác định gồm: sinh viên (SV), giảng viên (GV), cựu sinh viên (CSV) và nhà tuyển dụng (NTD). Tương ứng, bốn bộ phiếu khảo sát chuẩn hóa được thiết kế nhằm thu thập phản hồi của các BLQ về các hoạt động đảm bảo chất lượng của CSGD. Quy trình đề xuất bao gồm các bước chính: xác định nội dung mục tiêu khảo sát, đối tượng khảo sát, xây dựng công cụ khảo sát, tổ chức thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu và sử dụng kết quả phản hồi. Kết quả nghiên cứu cho thấy các công cụ khảo sát đạt độ tin cậy và giá trị nội dung phù hợp, đồng thời quy trình đề xuất đảm bảo tính nhất quán, khả thi và linh hoạt trong triển khai tại các CSGD đại học. Nghiên cứu góp phần cung cấp một khung tham chiếu thực tiễn nhằm hỗ trợ các CSGD nâng cao hiệu quả hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong và thúc đẩy cải tiến liên tục.</p>Phạm Thu Thủy
Bản quyền (c) 2026
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-09-082026-09-082059393Thực trạng vận dụng mô hình 5E trong dạy học môn khoa học tự nhiên nhằm phát triển thành phần năng lực tìm hiểu tự nhiên cho học sinh ở trường trung học cơ sở
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/836
<p>Trong bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực, việc vận dụng các mô hình dạy học tích cực, đặc biệt là mô hình 5E trong dạy học có ý nghĩa quan trọng nhằm góp phần phát triển thành phần năng lực Tìm hiểu tự nhiên cho học sinh. Bài báo này trình bày kết quả khảo sát thực trạng nhận thức, mức độ và hình thức vận dụng mô hình 5E của giáo viên môn Khoa học tự nhiên ở trường trung học cơ sở, đồng thời phân tích mối liên hệ giữa việc áp dụng mô hình 5E và việc phát triển thành phần năng lực Tìm hiểu tự nhiên cho học sinh. Nghiên cứu được tiến hành với 138 giáo viên dạy môn KHTN tại một số trường THCS thuộc các tỉnh, thành phố khu vực miền Bắc ở Việt Nam trong thời gian từ tháng 12/2024 đến tháng 8/2025. Dữ liệu thu thập thông qua phiếu khảo sát gồm 15 câu hỏi. Kết quả cho thấy đa số giáo viên nhận thức được vai trò của mô hình 5E trong việc phát triển thành phần năng lực Tìm hiểu tự nhiên, song mức độ vận dụng còn hạn chế, chủ yếu dừng ở các giai đoạn Engage, Explore và Explain. Những khó khăn thường gặp gồm thiếu học liệu, sĩ số lớp đông và năng lực học sinh không đồng đều. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc nghiên cứu vận dụng mô hình 5E trong dạy học môn KHTN nhằm phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh.</p>Chu Văn TiềmDương Thị Bích Phương
Bản quyền (c) 2026
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-09-082026-09-08205102102Biện pháp phát triển văn hóa nhà trường ở Trường Trung học cơ sở Lục Ba, xã Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/837
<p>Bài báo phân tích thực trạng phát triển văn hóa nhà trường tại trường Trung học cơ sở Lục Ba, xã Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên thông qua khảo sát bốn nội dung: văn hóa quản lý, văn hóa dạy học của giáo viên, văn hóa học tập của học sinh và văn hóa ứng xử trong nhà trường. Kết quả cho thấy nhà trường đã bước đầu hình thành các giá trị văn hóa tích cực, song vẫn còn những hạn chế nhất định về tính hệ thống và chiều sâu. Trên cơ sở đó, bài báo đề xuất bốn biện pháp cụ thể nhằm phát triển văn hóa nhà trường theo hướng bền vững, nhân văn và phù hợp với đặc điểm địa phương</p>Lý Ngọc Tĩnh
Bản quyền (c) 2026
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-09-082026-09-08205112112Biến đổi ngôn ngữ đồ họa trong giáo dục di sản văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh: từ lưu trữ đến trải nghiệm số
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/838
<p>Trong bối cảnh chuyển đổi số, hoạt động giáo dục và truyền thông di sản văn hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ hình thức truyền tải mang tính lưu trữ sang trải nghiệm thị giác và tương tác số. Sự phát triển của mạng xã hội và các nền tảng truyền thông đa phương tiện không chỉ làm thay đổi cách công chúng tiếp cận di sản mà còn tác động trực tiếp đến cấu trúc ngôn ngữ đồ họa trong truyền thông văn hóa. Bài viết tập trung phân tích sự biến đổi của ngôn ngữ đồ họa thông qua xu hướng trẻ hóa hình ảnh, cảm xúc hóa nội dung thị giác và tối ưu hóa thiết kế theo nền tảng số. Qua đó, nghiên cứu chỉ ra những tác động của môi trường số đối với hoạt động giáo dục di sản văn hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay</p>Đặng Thùy Trang
Bản quyền (c) 2026
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-09-082026-09-08205121121Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hành vi giáo viên mầm non theo mô hình trường học hạnh phúc của hiệu trưởng các trường mầm non ở Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/839
<p>Mô hình trường học hạnh phúc đang được quan tâm và triển khai rộng rãi nhằm xây dựng môi trường giáo dục tích cực, lấy trẻ làm trung tâm. Trong đó, quản lý hành vi của giáo viên mầm non đóng vai trò then chốt trong việc hình thành không khí sư phạm thân thiện, tôn trọng và nhân văn. Nghiên cứu này nhằm khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hành vi của giáo viên mầm non theo mô hình trường học hạnh phúc tại các cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng. Thông qua phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi, nghiên cứu đã chỉ ra 5 nhóm yếu tố chính tác động đến quản lý hành vi của giáo viên, bao gồm: yếu tố cá nhân của giáo viên, môi trường làm việc, học sinh, chính sách giáo dục và hệ thống khung năng lực nghề nghiệp. Kết quả cho thấy, hầu hết các yếu tố đạt mức ảnh hưởng trung bình đến khá, phản ánh nhu cầu cấp thiết trong việc thiết kế các chiến lược quản lý đồng bộ và chương trình bồi dưỡng chuyên sâu nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, qua đó xây dựng môi trường học đường hạnh phúc một cách bền vững.</p>Nguyễn Thị VuiBùi Thị Hải Lý
Bản quyền (c) 2026
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-09-082026-09-08205130130Giáo dục lý tưởng sống cho sinh viên từ hệ giá trị đạo đức của hình tượng anh hùng trong văn học trung đại Việt Nam
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/840
<p>Bài viết phân tích các kiểu hình người anh hùng trong văn học trung đại Việt Nam, qua đó làm rõ những hệ giá trị được kiến tạo và khả năng vận dụng trong giáo dục lý tưởng sống cho sinh viên. Kết quả nghiên cứu chỉ ra ba nhóm giá trị cốt lõi được kết tinh qua hình tượng người anh hùng: giá trị đạo đức xã hội, giá trị nhân cách cá nhân và giá trị lý tưởng sống. Trên cơ sở đó, bài viết khẳng định việc khai thác hình tượng người anh hùng trong giảng dạy văn học có ý nghĩa quan trọng trong giáo dục bản lĩnh, nhân cách và định hướng lý tưởng sống cho sinh viên hiện nay</p>Trịnh Huỳnh An
Bản quyền (c) 2026
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-09-082026-09-08205135135Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/841
<p>Trong những năm gần đây, trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence – AI) đã trở thành một trong những công nghệ cốt lõi thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trên phạm vi toàn cầu. Sự phát triển nhanh chóng của các mô hình AI tạo sinh như ChatGPT, Gemini, Claude hay GitHub Copilot đã tạo ra những thay đổi đáng kể trong giáo dục đại học, đặc biệt là đối với hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên. AI không chỉ hỗ trợ người học trong việc tìm kiếm và xử lí thông tin mà còn góp phần nâng cao hiệu quả học tập, phát triển tư duy sáng tạo và hỗ trợ triển khai các hoạt động nghiên cứu học thuật.</p> <p>Bài báo tập trung đánh giá hiệu quả ứng dụng AI trong học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên thông qua việc tổng hợp và phân tích các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế. Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp tổng quan tài liệu kết hợp phân tích, so sánh và tổng hợp các nguồn học thuật uy tín liên quan đến AI trong giáo dục đại học. Kết quả nghiên cứu cho thấy AI mang lại nhiều lợi ích đáng kể như tiết kiệm thời gian, nâng cao hiệu quả học tập, hỗ trợ nghiên cứu khoa học, thúc đẩy năng lực số và phát triển tư duy sáng tạo. Tuy nhiên, việc ứng dụng AI cũng đặt ra nhiều thách thức liên quan đến độ chính xác của thông tin, nguy cơ phụ thuộc công nghệ và các vấn đề đạo đức học thuật.</p> <p>Trên cơ sở đó, bài báo đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng AI trong học tập và nghiên cứu khoa học, góp phần phát huy tối đa tiềm năng của công nghệ này trong giáo dục đại học và đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời đại số.</p>Đàng Ngọc HuynhVõ Phúc Anh Duy
Bản quyền (c) 2026
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-09-082026-09-08205143143Cơ sở lý luận quản lý hoạt động dạy học môn Tin học lớp 3 ở trường tiểu học
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/842
<p>Trong bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay, việc quản lý hoạt động dạy học môn Tin học lớp 3 ở trường tiểu học giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Trên cơ sở lý luận về quản lý giáo dục, hoạt động này được hiểu là quá trình tổ chức, điều hành và kiểm tra nhằm đảm bảo việc dạy và học diễn ra hiệu quả, đúng mục tiêu chương trình. Môn Tin học lớp 3 theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 hướng tới hình thành cho học sinh những năng lực cơ bản về công nghệ thông tin, tư duy logic và kỹ năng sử dụng máy tính an toàn, hiệu quả. Để đạt được mục tiêu đó, công tác quản lý cần được triển khai đồng bộ từ xây dựng kế hoạch dạy học, tổ chức thực hiện, chỉ đạo đổi mới phương pháp đến kiểm tra, đánh giá. Bên cạnh đó, hiệu quả quản lý còn chịu tác động của nhiều yếu tố như trình độ đội ngũ giáo viên, điều kiện cơ sở vật chất, đặc điểm học sinh và sự chỉ đạo của nhà trường. Việc chú trọng các yếu tố này sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tin học, đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực số cho học sinh tiểu học trong thời đại chuyển đổi số.</p>Nguyễn Thị MaiHà Mạnh Hùng
Bản quyền (c) 2026
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-09-082026-09-08205150150Xây dựng hệ thống bài toán trong dạy học phần thống kê đối với sinh viên y khoa tại Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/843
<p>Xác suất thống kê là môn học ở rất nhiều các trường đại học, bởi tính ứng dụng của nó. Đối với y học, xác suất thống kê cũng đóng vai trò rất quan trọng, đặc biệt là phần thống kê giúp các bác sĩ tương lai biết cách tiếp cận các lưu trữ và hồi cứu các thông tin lâm sàng trong hồ sơ bệnh án (giấy điện tử), thư viện, các nguồn thông tin trực tuyến một cách phù hợp, đầy đủ, chính xác đảm bảo tính bảo mật và tính pháp lý; hay biết cách thu thập, đánh giá và sử dụng được các thông tin y học có giá trị và đáng tin cậy. Từ đó đưa ra được những đánh giá hay kiểm chứng về hiệu quả của các can thiệp y tế dựa trên bằng chứng khoa học. Ở trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên, chúng tôi dạy học phần thống kê cho sinh viên y khoa cũng nhằm mục tiêu đó. Do đó, những bài toán thống kê đưa ra trong dạy học phần thống kê của chúng tôi đều cần gắn liền với những kiến thức y học hay những tình huống y khoa. Bài báo này, tác giả giới thiệu những bài toán như vậy. Qua các bài toán, tác giả phân tích mục tiêu hay kiến thức muốn trang bị cho sinh viên y khoa ở đó.</p>Lê Thị Huyền My
Bản quyền (c) 2026
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-09-082026-09-08205161161Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong dạy học tại Trường Đại học Nông lâm TP. HCM – phân hiệu Ninh Thuận: nghiên cứu định lượng và mô hình tác động
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/844
<p>Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trong giáo dục đại học, trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành công cụ hỗ trợ quan trọng trong hoạt động dạy học và nghiên cứu. Đặc biệt, sự xuất hiện của các công cụ AI tạo sinh như ChatGPT, Gemini và Claude đã tạo ra nhiều thay đổi trong cách tiếp cận tri thức của người học. Tuy nhiên, việc ứng dụng AI trong giáo dục đại học tại các cơ sở đào tạo địa phương vẫn còn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Xuất phát từ thực tiễn đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích tác động của AI đến hiệu quả học tập và năng lực nghiên cứu của người học tại Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM – Phân hiệu Ninh Thuận</p>Nguyễn Anh Hoa Tường VânLại Thị Diệu Oanh
Bản quyền (c) 2026
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-09-082026-09-08205168168Ứng dụng công nghệ AI trong tổ chức trò chơi âm nhạc cho trẻ mầm non
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/845
<p>Bài báo nghiên cứu việc ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) trong tổ chức trò chơi âm nhạc cho trẻ mầm non nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển toàn diện cho trẻ. Trên cơ sở phân tích vai trò của trò chơi âm nhạc đối với sự phát triển nhận thức, ngôn ngữ, vận động và cảm xúc, bài viết làm rõ tiềm năng của AI trong việc thiết kế trò chơi tương tác, cá nhân hóa nội dung và tạo phản hồi thông minh. Nghiên cứu đề xuất một số hình thức tổ chức trò chơi âm nhạc tích hợp AI theo hướng lấy trẻ làm trung tâm, tăng cường tính tích cực và sáng tạo. Đồng thời, bài báo cũng chỉ ra những điều kiện cần thiết về hạ tầng công nghệ, năng lực số của giáo viên và nguyên tắc đảm bảo an toàn cho trẻ khi triển khai. Kết quả cho thấy AI là công cụ hỗ trợ hiệu quả trong đổi mới phương pháp giáo dục mầm non trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.</p>Hà Trọng Kiều
Bản quyền (c) 2026
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-09-082026-09-08205179179Phát huy tính tích cực cho học sinh trong dạy học kĩ năng nói và nghe (Ngữ văn 11) bằng phương pháp học theo hợp đồng tại trường THCS và THPT Võ Văn Kiệt tỉnh An Giang
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/846
<p>Dạy học Ngữ văn nhằm phát huy tính tích cực của người học là mục tiêu hướng đến trong dạy học của bất cứ một giáo viên nào. Để thực hiện được điều đó, người viết chọn lựa phương thức tổ chức dạy học phù hợp với từng loại bài hoặc từng kĩ năng. Bài viết này trình bày một phần kết quả thử nghiệm của việc vận dụng phương pháp học theo hợp đồng trong dạy kĩ năng Nói và nghe cho học sinh lớp 11 tại trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Võ Văn Kiệt. Chúng mang ý nghĩa tác động tích cực đến việc dạy và học để cả hai đều có tâm thế hứng khởi, truyền cảm hứng yêu thích, say mê. Kết quả nghiên cứu đã khẳng định sự thành công bước đầu của việc vận dụng phương pháp dạy học này trong việc nâng cao năng lực tự học, chủ động, tích cực hóa hoạt động học tập cho học sinh trong bối cảnh hiện nay</p>Phan Thị Quỳnh Như
Bản quyền (c) 2026
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-09-082026-09-08205186186Ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (AI) trong giảng dạy môn thiết kế nhân vật tại Trường Đại học Gia Địn
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/847
<p>Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra nhanh chóng, các công cụ Trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi quy trình sáng tạo của mỹ thuật và thiết kế kỹ thuật số. Nghiên cứu này tập trung khảo sát việc tích hợp công nghệ AI vào giảng dạy môn Thiết kế nhân vật dành cho sinh viên ngành Đồ họa kỹ thuật số tại Trường Đại học Gia Định. Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận hỗn hợp, bao gồm tổng quan tài liệu, thực nghiệm giảng dạy trong lớp học và đánh giá kết quả sản phẩm thiết kế của sinh viên. Một số công cụ AI tạo sinh như Midjourney, Stable Diffusion và Adobe Firefly được tích hợp vào quy trình thiết kế nhằm hỗ trợ quá trình phát triển ý tưởng, khám phá concept và thử nghiệm các phương án hình ảnh. Kết quả thực nghiệm cho thấy quy trình thiết kế có sự hỗ trợ của AI có thể giảm khoảng 30–50% thời gian dành cho giai đoạn hình thành ý tưởng và phác thảo ban đầu, đồng thời giúp sinh viên mở rộng khả năng sáng tạo và đa dạng hóa phong cách thị giác. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc tích hợp AI vào giảng dạy thiết kế có thể nâng cao hiệu quả học tập, đồng thời vẫn duy trì vai trò quan trọng của các kỹ năng mỹ thuật truyền thống trong quá trình hoàn thiện sản phẩm.</p>Trần Ngọc Phương
Bản quyền (c) 2026
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-09-082026-09-08205196196Phát triển năng lực thẩm mĩ số cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học
https://sjes.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/848
<p>Năng lực thẩm mĩ số là khả năng của cá nhân trong việc nhận diện, đánh giá và sáng tạo các giá trị thẩm mĩ trong môi trường số thông qua quá trình tiếp nhận, tương tác với các đối tượng thẩm mĩ được tạo ra hoặc biến đổi bởi công nghệ số. Dạy học đọc hiểu văn bản văn học có nhiều tiềm năng trong việc phát triển năng lực thẩm mĩ số cho học sinh nhờ đặc trưng của văn bản văn học và đặc trưng của hoạt động đọc hiểu, đặc biệt là trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay. Bài viết làm rõ một số vấn đề lí luận về năng lực thẩm mĩ số và đề xuất hệ thống biện pháp phát triển năng lực này cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học, góp phần đáp ứng yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT và bối cảnh chuyển đổi số trong giáo dục hiện nay</p>Lưu Thị Thanh ThùyNguyễn Thị Ánh NgọcNguyễn Duy ĐứcNguyễn Thị Phương UyênLê Ngọc ÁnhLê Thị Thùy
Bản quyền (c) 2026
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-09-082026-09-08205204204